Khắp nơi người ta nhảy múa Cách đây hơn một thập kỷ, tôi đã thấy các ban nhạc người Philippin xuất hiện ở Hà Nội và Sài Gòn. Ban nhạc thường gồm một nữ ca sĩ, một tay trống và một ghi ta. Tất cả đều da ngăm ngăm, hát tiếng Anh như người Mỹ, biểu diễn điêu luyện và cuồng nhiệt. Nơi hoạt động của họ là các vũ trường hạng sang, khách sạn năm sao và quán bar. Có bận sang Seoul, tôi cũng thấy ban nhạc Philippin biểu diễn ở sảnh khách sạn Imperior Palace. Dường như người Philippin đi hát thuê khắp thế giới. Chẳng công ty chuyên tổ chức sự kiện chuyên nghiệp nào lại không ém sẵn vài thông tin về các ban nhạc này để khi cần là chèn vào chương trình của họ. Người Venezuela có lò đào tạo hoa hậu. Lẽ nào quần đảo Philippin cũng lại có sẵn lò đào tạo ban nhạc?
Lần này, vừa ra khỏi sân bay quốc tế Ninoy Aquino, tên người anh hùng Philippin trong cuộc Cách mạng nhân dân, tôi chợt hiểu lý do vì sao những ca sĩ Philippin lại xuất hiện khắp mọi nơi và được ưa chuộng đến thế. Ấy là vừa lên xe, anh chàng tài xế chưa kịp nhấn ga đã cuống quýt bật nhạc, những bản nhạc tiếng Anh thời thượng vui vẻ. Thế rồi bất cứ khi nào lên taxi tôi cũng được thưởng thức âm nhạc, hết All at once của Whitney Houston rồi lại đến Just Dance của Lady Gaga. Đương nhiên vũ trường, bar, cà phê ở Philippin chỉ toàn nhạc sống. Vào nhà hàng, chưa kịp ăn muỗng súp đầu tiên đã thấy ban nhạc một tay cello, hai ghi ta đứng sát bàn ca hát. Khách cứ việc gặm đùi gà còn ban nhạc vẫn thánh thót bên tai những bản Hotel California, Let it be, Stand by me…
Đi shopping, đang còn mải nhòm giá niêm yết trên cổ áo thời trang thì giật bắn mình vì tiếng nhạc rộ lên, rồi hơn chục nhân viên nam nữ đồng loạt cầm quạt ôm nhau nhảy múa tập thể theo một vũ điệu vui nhộn. Hỏi ra mới biết theo lệ của shop Kultura, ngày nhân viên phải nhảy múa mấy bận như thế, lúc 9 giờ sáng, 12 giờ trưa, 3 giờ chiều và 6 giờ tối. Nhảy múa xong, các nam nhân viên còn cầm micro hát cho khách nghe.
Hồi năm ngoái, hãng hàng không Cebu Paciffic khiến cư dân mạng trên khắp thế giới phát sốt vì clip được post lên mạng quay cảnh các chiêu đãi viên hàng không vừa hướng dẫn cho khách sử dụng các thiết bị an toàn vừa nhảy múa trên nền nhạc rất đã của Lady Gaga và Katy Perry. Một chiêu PR tuyệt hảo. Ai cũng ngán cái màn hướng dẫn an toàn trên máy bay, vừa đơn điệu vừa căng thẳng. Các chiêu đãi viên hàng không trên khắp thế giới luôn với bộ mặt nghiêm nghị, động tác chuẩn mực hướng dẫn hành khách phải tìm ống dưỡng khí ở đâu, thổi phồng áo phao cứu hộ như thế nào và lối ra thoát hiểm khi máy bay gặp tai nạn. Chưa bay đã lo tai nạn. Giờ thì Cebu tìm ra phương cách hiệu quả hơn cho cái khâu bắt buộc ấy, nhấn mạnh hình ảnh vui nhộn của hãng hàng không này, các chiêu đãi viên nhảy múa trong nụ cười đáng yêu và thân thiện, thật chẳng còn gì thú vị hơn để cải thiện một chuyến bay tẻ nhạt. Nhiều người chỉ muốn bay cùng Cebu, không phải vì giá rẻ mà để xem chiêu đãi viên nhảy múa ra làm sao. Giờ thì tôi có thể nói ngay với những người đang băn khoăn về sự này rằng nhảy múa trên máy bay cũng chưa là gì so với việc thầy giáo nhảy múa trong lớp học.
Tôi đi dự diễn đàn giáo dục của tổ chức SEOMEO INNOTECH (Tổ chức của các Bộ trưởng giáo dục khu vực Đông Nam Á) với chủ đề “Khôi phục niềm đam mê trong giảng dạy”. Ở đây, tôi gặp Mr. Pasig là một giáo viên với thâm niên 56 năm giảng dạy, giờ ngót 80 tuổi. Mr. Pasig lên diễn đàn, vừa nhảy múa vừa hát trong lúc diễn thuyết. Còn cô Ana Lysa, điều phối viên dự án, đầu giờ học luôn bắt cả lớp đứng lên để nhảy múa theo điệu “chim cánh cụt”. Trên màn hình xuất hiện ba vũ công trong điệu nhảy ngộ nghĩnh, cô Ana Lysa đứng trước nhảy mẫu cho chúng tôi theo. Vậy là cả lớp, từ bà thứ trưởng Bộ giáo dục Cambodia, hiệu trưởng ĐH Sư phạm người Lào cho đến anh thầy giáo dạy sinh vật Brunei, cô giáo tiểu học Indonesia; từ tiến sĩ Nurlaela chít khăn đạo Hồi cho đến cô giáo Munna nhút nhát ăn chay niệm Phật; từ bà thứ trưởng Malaysia sém đến tuổi về hưu cho đến thầy Sigit Wiyono trẻ măng mới ra trường, tất cả bị bắt nhảy múa đến khốn khổ theo “chim cánh cụt”. Này thì nhún. Này thì lắc hông. Này thì hai tay xòe ra như chim mà xoay vòng tròn. Cái đó cô Ana Lysa gọi là để “hâm nóng niềm đam mê giảng dạy”. Cô Ana đương nhiên nhảy rất thuần thục dù đã hơn 40 tuổi, và cô cũng vui nhộn như nhiều người Philippin khác. Dường như sau câu chào Mabuhay thân thiện, ai ai cũng sẵn sàng ca hát và nhảy múa.
Niềm say mê âm nhạc và những điệu nhảy có lẽ luôn bắt nguồn từ những cư dân trên các hòn đảo. Chiêm ngưỡng các điệu múa dân gian trong nhà hàng Jamboanga ở khu phố Tây sát bờ Vịnh Manila, tôi nhìn thấy trong đó sự dũng mãnh hoang dại của những người dân trên đảo Sumatra, Giava (Indonesia), sự nhịp nhàng uyển chuyển của điệu Lamvong, nét đài các quyến rũ của những vũ công Apsara và cả sự hồn nhiên, vui nhộn trong múa sạp của người Tây Bắc xứ Việt. Ấy là nét tương đồng của các vũ điệu dân gian thuộc vùng Đông Nam Á, nhưng ở những vũ công Philippin, có thể còn tìm thấy hơn cả sự mềm dẻo nóng bỏng, gợi tình và cực kỳ vui nhộn. Đặc tính của cư dân đảo kết hợp với văn hóa Tây Ban Nha tạo nên một tính đồng nhất khó phân tách, nhưng tựu chung là sự cuốn hút đến ngẩn ngơ trong tiếng trống dập dồn và những động tác gấp gáp cuồng nhiệt.
Thành phố yêu hội họa
Người Tây Ban Nha đã thống trị hòn đảo này trong suốt 350 năm, rồi đến người Mỹ ngót nửa thế kỷ, vì vậy văn hóa Philippin đậm đặc tính Tây phương. Nhiều công trình của Tây Ban Nha vẫn còn đó trên đường phố Metro Manila như trường ĐH cổ Santonio Tomas, bưu điện thành phố và vô số nhà thờ Thiên chúa giáo. Cách đây vài năm, tôi đã dịch một truyện ngắn của nhà văn người Philippin, Vicente Rivera, Jr, tựa đề bản gốc là “All over the world” (Khắp nơi trên thế giới). Câu chuyện ngọt ngào cay đắng lấy bối cảnh là khu Intramuros lúc Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu chạm đến hòn đảo này. Nhân vật chính đầy cô đơn và cô gái Maria yêu văn học bị chia rẽ mỗi người một nơi, chấm dứt những ngày đẹp đẽ trên hoàng hôn đại lộ. Giờ thì tôi đang đứng trong khu phố cổ Intramuros, nơi đã từng rất phồn vinh rồi lại nhanh chóng biến thành khu ổ chuột từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai và hiện được bảo tồn làm di sản cho khách du lịch đến thăm quan.
Intramuros là điểm thú vị nhất Manila. Những con phố nhỏ hẹp trải đá dẫn đến các tòa nhà cổ và nhà thờ Thiên chúa giáo còn vẹn nguyên kiến trúc cổ kính của Tây Ban Nha. Và nếu không có vài bác xế pedicab lững thững đạp xe trong phố cổ mà chỉ nhìn cỗ xe ngựa lọc cọc men theo những bức tường rào trắng toát đặc trưng của xứ Tây Ban Nha thì tất nhiên, tôi lại cứ tưởng mình đang ở một thành phố nào đó bên bờ Địa Trung Hải. Không có nhiều khách du lịch ở Manila, hầu như không có, nên trong Intramuros vắng vẻ. Tôi thuê một bác Pedicab, là loại xe đạp mini nhỏ tí xíu với một ghế ngồi cũng tí xíu bên cạnh kiểu xe ba bánh. Pedicab có cả xe đạp và xe gắn máy, sơn xanh đỏ giống một thứ đồ chơi ngoài công viên mà tôi không hiểu sao họ lại làm cho nó nhỏ tí như thế. Bác tài xế tên Jay khoe với tôi bác là pedicab có thẻ. Bác đạp xe đưa tôi đi lòng vòng quanh bức tường thành xám xịt bao lấy Intramuros rồi lại quay về khu nhà thờ cổ. Phía bên kia là pháo đài Santiago giờ biến thành vườn hoa có bán vé. Tôi cũng lại thuê một cỗ xe ngựa chạy vòng quanh pháo đài với giá 50 Peso. Xe ngựa ở đây thiết kế cầu kỳ như dành cho hoàng tử xứ Tây Ban Nha. Ngựa cũng được chăm sóc rất đẹp. Nhìn xa tưởng ngựa bằng sáp để chụp ảnh. Rồi bỗng dưng mới thấy ngựa đụng đậy. Bên ngoài kia, phía khu vực vườn hoa Rizal và ven bờ Vịnh Manila đều có những cỗ xe ngựa đi lại lững thững.
Hoàng hôn trên Vịnh Manila là giờ khắc quyến rũ nhất trong ngày. Đây cũng là khu vực sầm uất nhất Metro Manila, tập trung các khách sạn thương hiệu lớn Park Hyatt, Sofitel, các Sở, Bộ và những công trình kiến trúc lớn như Trung tâm Văn hóa Philippin, Nhà hát Nghệ thuật Dân gian. Người ta chỉ nhìn thấy biển ở vài quãng, còn phần nhiều con đường ven Vịnh (Roxas) đã bị các tòa nhà án ngữ che hết tầm nhìn của hoàng hôn, trong đó có đại sứ quán Mỹ, mà ở nước nào cũng vậy, to lớn, bít bùng hệt lô cốt. Tuy vậy bách bộ trên bờ Vịnh vẫn là sự hưởng thụ viên mãn. Người ta kê nhiều bàn nước với ghế ngồi màu trắng kiêm xích đu. Nhiều cặp đang yêu đung đưa trên xích đu, vừa uống cà phê vừa ngắm nắng vàng cam đang buông trên mặt Vịnh, để rồi khi những rặng dừa đã sẫm dần, sẽ dễ dàng trao nhau một nụ hôn vội mặc cho dòng người xe của một trong những thành phố đông dân nhất thế giới ngun ngút trên đại lộ.
Dọc theo đại lộ Roxas, những ngọn đèn đường đủ màu sắc sặc sỡ như trong khuôn viên một khu giải trí. Đây là thứ kiến trúc ánh sáng ngoài trời đặc trưng của một thành phố đảo vui nhộn. Người Philippin ưa âm thanh và màu sắc. Trên đường phố, pano quảng cáo thường để ở cỡ cực đại và nhiều đến độ có thể so sánh với Hồng Kông. Vài năm trước, họa sỹ body-art Ngô Lực sang Philippin du học, khi về ca ngợi giáo dục nghệ thuật của họ hết lời. Thì Phillippin chính là nơi sản sinh ra nhiều họa sỹ nổi tiếng. Hội họa của họ phát triển, có lẽ chăng còn nhờ ảnh hưởng không thể phủ nhận của thời kỳ thuộc địa kéo dài dưới quyền cai trị của vương triều Tây Ban Nha, quê hương của Francisco Goya và Picasso.
Người Philippin ưa chuộng hội họa đến độ họ rất hay tự vẽ lên vách tường nhà (là tranh tự vẽ chứ không phải trường phái Graffiti). Và đặc biệt, một trong những thứ độc đáo nhất được sơn vẽ mà đã trở thành biểu tượng của Philippin là Jeepney. Jeepney là một loại xe công cộng tư nhân. Nó thân dài, có đầu hình dáng của chiếc xe tải nhỏ và đuôi là kiểu xe lam. Hai băng ghế dọc chở được hơn chục người. Mặc dù do tư nhân sở hữu nhưng Jeepney chạy theo tuyến giống xe buýt, trên thành xe tài xế tự sơn tay tuyến đường như San Miguel – Quiapo – Cubao hay Philcoa – Quezon – Panay. Phần trên cửa kính ghi tên xe, không phải tên chủ xe mà bất cứ cái tên nào kêu nhất trên đời xế Jeepney có thể nghĩ ra được, tỉ như Rick son, True Blue Aussie, Féjarde hay Jessica thì đích thị là tên nàng trong mộng của tay xế Jeepney lãng mạn ấy rồi. Còn thân xe là cả một “công trình hội họa” rực rỡ. Tài xế mặc sức sáng tạo: biển cả, tàu thuyền, Đức mẹ Maria, Chúa Hài đồng, đại bàng, hổ báo, ngôi sao nhạc rock, mỹ nhân gợi tình…, tất thảy đều chạy nhong nhong khắp phố.
Nói tiếng Tagalog đi
Ở đây tôi được gặp một nhân vật kỳ lạ là thầy Pasig, được SEAMEO INNOTECH giới thiệu là một giáo viên có niềm tâm huyết đặc biệt. Tôi thoạt nghĩ giáo viên tâm huyết ở xứ Việt thiếu gì. Ai cũng tâm huyết cả khi mà vẫn miệt mài giảng dạy trong lúc đồng lương giáo viên chỉ hơn được nước bạn Cambodia. Xét theo thâm niên 10 năm giảng dạy thì cô giáo trẻ Munna ở Phnompenh được 70 đô la Mỹ một tháng lương, thầy dạy vật lý người Lào 200 đô la, Indonesia 350, Phillipin 370, Thái Lan 500, Brunei và Malaysia khoảng 1000USD cho giáo viên trình độ thạc sỹ trở lên, còn Mohanah, cô bạn đồng nghiệp người Singapore của tôi bảo đó là “top secret” (tối mật), không muốn tiết lộ. Nhưng tất cả chúng tôi đều biết phần chi cho giáo dục chiếm một miếng lớn trong “chiếc bánh GDP” của Singapore. Rõ ràng lương của Mohanah khiến cô phát ngượng với chúng tôi vì nó cao quá.
Thầy Pasig lên diễn đàn. Ngoài 80 tuổi, tóc thầy đã bạc trắng. Dáng vẻ không có gì nổi bật, nhưng chỉ sau vài giây, thầy khiến tất cả chúng tôi lặng đi… nghe giảng. Pasig là một trong những diễn giả tuyệt vời nhất mà tôi từng gặp. Thầy nói 30 phút bằng tiếng Anh, với tông giọng trầm bổng, nhịp điệu đa dạng và những động tác cuồng nhiệt. Đôi lúc thầy hát hoặc… lắc hông để minh họa cho những ý kiến của mình. 80 tuổi, hình như người ta đã không còn sức để tập dưỡng sinh nữa mà phần nhiều ở nhà lo dưỡng bệnh. Thầy Pasig thì vẫn minh mẫn sau 56 năm trên bục giảng, vẫn nói “Chừng nào bạn còn chưa cuống cuồng chạy đi mua một chiếc áo hàng hiệu Lacoste thì hãy tự trả lời xem điều gì là quan trọng nhất trong cuộc đời bạn… Hãy dám ước mơ và dám biến ước mơ đó thành hiện thực… Khi bạn 50 tuổi thì đừng sợ chết, bởi vì bạn không bao giờ chết cả. Bạn chỉ thực sự chết khi người ta quên bạn. Và nếu như vậy, có thể bạn đã chết rồi ngay từ khi còn rất trẻ, khi mà chẳng ai còn nhớ đến bạn nữa…”.
Pasig nói tiếng Anh như người Mỹ, như tất cả các cán bộ của SEAMEO INNOTECH và như phần nhiều những người Philippin có học khác. Sau 4 thế kỷ thuộc địa đằng đẵng, Philippin là nước có mức độ tây phương cao nhất châu Á với một sự hoà trộn độc nhất giữa Đông và Tây. Cộng đồng công giáo La Mã chiếm tới 92% dân số. Philippin tồn tại hơn 100 ngôn ngữ của các vùng dân tộc khác nhau nên ngoài tiếng mẹ đẻ, cư dân ở đây còn phải thông thạo thêm hai ngôn ngữ khác là tiếng Filipno (Tagalog) và tiếng Anh. Hệ thống giáo dục của Philippin rất phát triển và dựa theo chương trình giảng dạy của Hoa Kỳ, nên ở trường, một số môn được dạy bằng Filipino (thường là môn xã hội), một số môn khác dạy bằng tiếng Anh.
Đi trên những con lộ dài và hẹp đầy nắng gắt, lắm lúc tưởng như đang ở một tỉnh lẻ nào đó trên đất Mỹ, bởi nhìn lên biển chỉ toàn thấy tiếng Anh, nào thì Maria Clara Ave (Đại lộ Maria Clara), Eastwood Police Station (Trạm cảnh sát Eastwood), Maclison Square (Quảng trường Maclison), Mc Kinley Hill (Đồi Mc Kinley – Là một khu ở cao cấp chắc mô phỏng Beverly Hill)…, chưa kể nhìn đâu cũng thấy dấu ấn của các ông lớn fast-food McDonald, Burger King, KFC, Pizza Hut… Rất ít biển hiệu và biển báo bằng tiếng Tagalog, nếu có thì thế nào cũng phải kèm theo tiếng Anh ở dưới. Ngôn ngữ hành chính, thương mại và báo chí, truyền hình sử dụng tiếng Anh. Từ đứa trẻ tiểu học đến ông cụ Pasig, từ giám đốc nhà băng đến người bán hàng rong đều nói tiếng Anh nhoay nhoáy. Toàn dân sử dụng tiếng Anh hàng ngày, trừ những người không được học hành tử tế. Vì thế khi tôi giao tiếp với dân bản địa, họ luôn tưởng tôi là người Philippin. Nếu có thấy tôi ngơ ngác đôi chút thì họ cũng nghĩ tôi từ một ngôi làng hẻo lánh nào đó trong số hơn 1700 hòn đảo cập bến xuống Manila. Có một số ít tài xế taxi nói tiếng Anh rất kém, nên họ nhăn mặt bảo tôi “Thôi nói tiếng Tagalog đi”. Vẫn muốn thể hiện rằng mình là người Philippin để đỡ bị bắt nạt, tôi cứ khăng khăng bảo thích nói tiếng Anh hơn. Giờ Philippin là nước nói tiếng Anh lớn thứ ba trên thế giới. Chị Ana Lysa nói rằng ở nhà chị cố gắng giao tiếp với các con bằng ngôn ngữ mẹ đẻ (chứ không phải tiếng phổ thông Tagalog), sợ đâu các con đi học ở trường nói miết tiếng Anh rồi quên mất.
Tổng hành dinh của SEAMEO INNOTECH đóng tại đại lộ Thịnh Vượng Chung (Commonwealth Avenue), Quezon City. Trước khi đi tôi hỏi trước Quezon cách Manila mấy trăm cây để còn có kế hoạch về thăm thủ đô, nhưng thực tình chẳng đâu lạ như nước này. Metro Manila gọi là Vùng thủ đô, bao gồm những 17 thành phố, trong đó có Manila City. Và từ Commonwealth chạy về Vịnh Manila cũng chỉ mất chừng chục cây số. Đúng những ngày tôi học ở Quezon thì đọc báo mạng thấy bảo mây phóng xạ từ lò hạt nhân rò rỉ Tokyo đang bay qua vùng Đông Bắc Philippin. Tra bản đồ thấy Metro Manila nằm ngay trên đảo Luzon phía Bắc. Lòng sợ hãi không yên, tôi đi bộ sang nhà thờ Iglesia ni Cristo bên cạnh, bụng bảo dạ không cầu Phật được thì cầu Chúa cũng xong. Thánh thần nào cũng bảo vệ người lành thoát khỏi mưa phóng xạ. Công trình tôn giáo lộng lẫy trên đại lộ nượp người khi hoàng hôn xuống. Họ đến bằng ô tô, xe máy, pedicab, jeepney và hối hả đi vào bên trong giáo đường với khuôn mặt sáng rực niềm thành kính. Tôi cũng sáng rực khuôn mặt như thế nhưng bị chặn ngay từ cửa vào với lý do… mặc quần. Ở Iglesia ni Cristo người ta yêu cầu phụ nữ mặc váy, dù minizip đến ngang đùi cũng được nhưng miễn là váy, còn quần dài thượt đến mắt cá chân cũng bị cấm. Tôi tưởng tiếng Anh của mình ngày càng kém đi nên đứng lùi lại để phân tích câu cho kỹ. Sau thấy từng cô gái đi vào không ai mặc quần như tôi, mà đều lướt thướt váy dài, váy ngắn, thậm chí ngắn như váy diện sàn nhảy.
Lạ thật. Nếu mà tôi bơi thuyền xuống Vùng Hồi giáo tự trị tự trị Mindanao, hòn đảo phía Nam Philippin, không biết người ta sẽ bắt tôi mặc trang phục gì khi bước chân vào thánh đường Hồi giáo trên quần đảo vui nhộn này.
Thay cho lời kết bài viết này, tôi xin trích lời nhà thơ Hữu Thỉnh nói về thế hệ nhà văn trẻ hôm nay: “… đã lộ diện một lớp tác giả mới đáng tự hào, trưởng thành về ý tưởng thẩm mỹ, ý thứ...
Và tiếp đến là hối hận, là nức nở chuộc tội êm dịu đến thắt lòng, là quỳ gối yêu đương, là làm lành trong mê cuồng xác thịt đến tuyệt vọng. Trong đêm nhung lụa ở motel Mirana, tôi hôn lòng bàn chân ho...