Tôi đọc truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Văn Thọ lần đầu tiên cách đây 5 năm. Ấy là khi tôi có một truyện in chung trong tập truyện ngắn 2006. Tôi tìm thấy “Quyên” ở trong đó, và tôi cũng chỉ đọc mỗi “Quyên”, đọc như bị những con chữ ám vào người mà lôi đi giữa bộn bề công việc hối hả quay cuồng dường ngày nào cũng thế. Đọc mà không hề biết mặt tác giả, cũng không biết rằng truyện ngắn Quyên là chương đầu tiên của cuốn tiểu thuyết sẽ được giải thưởng của Hội Nhà văn 5 năm sau đó. Tình cờ một lần đến NXB Hội Nhà văn, người ta giới thiệu với tôi “Còn đây là nhà văn Nguyễn Văn Thọ”. Tôi nhìn người đàn ông nhỏ bé có cái đầu trọc lốc, mặc áo sơ mi xanh, tươi cười ngồi ôm chiếc cặp to đùng trước ngực. Tôi bày tỏ lòng ngưỡng mộ sâu sắc đối với “Quyên”, rồi chợt buột miệng rằng thì là tôi hình dung tác giả của “Quyên” khác cơ, chứ không phải như thế này. Nhà văn Nguyễn Văn Thọ có vẻ chạnh lòng, nụ cười hơi nhạt đi, nhưng vẫn hỏi lại một câu mà người hỏi đã biết rõ câu trả lời “Thế cô hình dung tôi như thế nào?”
Nhà văn hạnh phúc nhất thế gian
Khi hẹn gặp tôi để tặng cuốn tiểu thuyết mới ra lò ở một quán cà phê nằm trên nóc khu phố sách Đinh Lễ, tác giả của “Quyên” bị một người đàn ông bán sách chặn lại một cách tôn kính “Chào bác. Sách của bác hồi này vẫn bán chạy lắm đấy ạ”. Nguyễn Văn Thọ mỉm cười gật gật. Nụ cười khiêm nhường, nhã nhặn rất đặc trưng của… một ngôi sao. Tôi hỏi Nguyễn Văn Thọ rằng anh quen ông ta hay sao. Nguyễn Văn Thọ lắc đầu bảo chắc hắn nhận ra mình nhờ cái đầu trọc trên ảnh. Sau vừa ngồi chưa nóng chỗ, tay còn đang lật thực đơn, cậu bồi bàn có khuôn mặt trẻ măng cúi xuống nói nhỏ “Dạ thưa… chú có phải nhà văn Nguyễn Văn Thọ”. Lại vẫn nụ cười của một ngôi sao. “Cháu đã đọc Quyên rồi. Cháu rất thích ạ.”
Ôi chao, tôi nhìn Nguyễn Văn Thọ bằng đôi mắt kinh ngạc. Trong vòng 5 phút có hai người xa lạ xuất hiện bày tỏ lòng ngưỡng mộ. Nếu không tận mắt chứng kiến cái cảnh đáng ghen tị ấy mà nghe Nguyễn Văn Thọ kể lại khéo tôi bảo nhà văn lại sáng tác để tự nâng mình lên. Thời đại này, văn chương ở xứ này sao mà được trọng vọng nhường ấy. Sau khi thấy cậu phục vụ có vẻ nhiệt tình hơn với ly cốc ở bàn của nhà văn, tôi bảo Nguyễn Văn Thọ quả là người hạnh phúc nhất thế gian.
Nguyễn Văn Thọ hạnh phúc thật, tiểu thuyết “Quyên” vừa ra mắt, giải thưởng đâu chưa thấy đã nhìn ra sách lậu trên các sạp. Các công ty sách đều bảo “Bán Quyên sướng lắm”. Dân kinh doanh, cho dù là kinh doanh một sản phẩm tri thức như sách thì vẫn mang tôn chỉ hàng đầu là lợi nhuận, và sự tôn thờ của họ dành cho các nhà văn có sách bán chạy là rõ rệt, dẫu biết rằng sự tôn thờ ấy sẽ bay biến như gió thoảng nếu ngày mai lượng ấn bản của nhà văn bị sụt giảm thảm hại. Nhưng hai năm trôi qua, “Quyên” vẫn giữ vị trí đầu bảng và công ty sách nào có “Quyên” đều được các bạn hàng coi là may mắn. Không những “Quyên” được bán rất chạy trên thị trường sách trong nước mà năm nào nhà văn Việt kiều Nguyễn Văn Thọ trở về Đức cũng mang theo “một bao tải Quyên” theo yêu cầu của bà con trong cộng đồng người Việt châu Âu. Thế rồi “Quyên” được đón nhận và mua hết sạch. Nhà văn có lần kể rằng “Một chị ở cách nhà tôi vài trăm cây số đã tìm tới, chỉ cuốn sách trên tay, nghẹn ngào kể: Cuộc đời em cũng khốn khổ như chị Quyên của anh. Anh đã nói thay em. Em đã ba lần bị hãm hiếp khi vượt biên từ Nga sang Đức…”. Mỗi cuốn sách có giá từ 15-20 Euro nhưng nhiều phần độc giả thường đồng cảm, không chỉ đồng cảm với nhân vật trong sách, mà còn đồng cảm với cuộc sống của tác giả bên trời Âu, cũng bon chen, vất vả kém chi cuộc sống của mình, mới dúi vào tay nhà văn cả 50 Euro. Khi ấy con người dễ xúc động của nhà văn (mà ông tự gọi mình là người thợ khách viết văn) muốn bật khóc, bởi tác giả lại đồng cảm ngược với độc giả “Tôi biết ở Đức không phải ai cũng giàu. Đứng dưới trời tuyết có ngày ế trỏng ế trơ, chỉ mong đủ tiền mua xăng về nhà, có người cả 10 năm không có tiền mua vé máy bay về thăm mẹ... Tiền ai lại chả thích. Song 50 euro có khi là cả ngày chợ của hai vợ chồng và hai đứa con.”
Cho đến giờ, chỉ trong vòng hai năm, “Quyên” đã thu được hơn 400 triệu, từ tiền bản quyền tiểu thuyết, nhuận bút in truyện nhiều lần trên các báo, giải thưởng, tiền bán sách rồi bản quyền làm phim. Mới đây hãng phim BHD cũng đã chính thức ký hợp đồng mua bản quyền phim “Quyên”. Nhà văn Nguyễn Văn Thọ rất phấn khởi. Ông hồ hởi kể về các “khoản thu” của “Quyên”. Tôi biết đó là niềm tự hào của bất kỳ nhà văn nào, khi mà thu nhập từ nghề viết đã phần nào đại diện cho thành công của cuốn sách, đã chứng minh công sức lao động và tâm huyết mồ hôi nước mắt của người sáng tạo bỏ ra cho đứa con tinh thần của mình không phải đổ xuống sông xuống bể. Nhà văn Nguyễn Văn Thọ ít nhiều mang tính cách sòng phẳng đặc trưng của người Đức, rất không thích nhắc đến chuyện người ta xin không sách của mình hoặc in truyện của mình mà lại trả nhuận bút thấp. Và với cá tính thẳng thắn của mình, nhiều lần ông đã tuyên bố công khai rằng ông không thích cách đối xử kiểu tem phiếu này đối với sản phẩm nghệ thuật của người viết.
Nửa tỷ đồng cho một cuốn sách viết bất quá cũng chỉ vài năm trời, kèm theo linh đình dư luận trong ngoài nước, rồi giải thưởng và bản quyền phim. Người ngoài trông vào dễ tưởng đâu tiền bạc và danh tiếng đến với nghề văn dễ lắm, ấy là do tự dưng Trời sinh ra một nhà văn thiên bẩm, rồi ấn ngòi bút vào tay anh ta. Nhưng những người biết rõ cuộc đời của Nguyễn Văn Thọ, như nhà thơ Trần Đăng Khoa từng gọi ông là một “pho cổ tích thời hiện đại”, thì hiểu rằng: Quyên, thực sự là kết tinh của máu, mồ hôi và nước mắt, đúng theo nghĩa đen của từ này.
Pho cổ tích thời hiện đại
Nguyễn Văn Thọ là người quyết liệt và dữ dội, như những gì người ta nói: “văn là người”. Sau này có lần ông cũng nhắc lại lời nhận xét rõ vô duyên của tôi lúc mới gặp “tưởng tác giả của Quyên phải khác cơ”. Cái điều khiến con người nhà văn trở nên quyết liệt đến thế, ngoài tính cách bẩm sinh, còn phần nhiều bộc phát từ hoàn cảnh. Nguyễn Văn Thọ từng miêu tả một câu rất hài hước và bi kịch về cuộc đời mình thế này: “Làm quan thì nửa chừng, làm dân thì trôi nổi, làm tình thì hai lần dang dở, còn làm văn thì muộn màng.”
Năm 1965, Nguyễn Văn Thọ nhập ngũ, khi mới chỉ là một chàng trai 17 tuổi. Thuộc binh chủng pháo phòng không, lên đến trung đội trưởng, lăn lộn đủ binh chủng khác, gùi thồ, trinh sát, bộ binh… khắp các chiến trường Quảng Trị, Trường Sơn, Tây Nguyên, Lào…, tham gia hơn 500 trận đánh, rồi giải ngũ năm 1976, người thanh niên 28 tuổi hiến 11 năm tuổi xuân cho bom đạn, điều bình thường nhất là tình yêu cũng chưa hề được biết, khi quay về thành phố mang tâm trạng háo hức của một người anh hùng trở về từ mặt trận. Cho dù lúc ấy chỉ đủ tiền mua một điếu thuốc chén nước ba người chia nhau thì vẫn cứ hớn hở một niềm tin ngây thơ cho rằng cả Hà Nội sẽ chào đón mình. Nhưng khi bước xuống ga tàu, không một người nào để ý đến ba người lính đang lầm lũi bước đi. Từ ấy, Nguyễn Văn Thọ hiểu rằng sự vinh danh đối với người lính chỉ có giới hạn. Giờ khắc vai trò của người lính đã chấm dứt, phải lập tức quay trở lại đời thường thôi. Nguyễn Văn Thọ viết 16 lá đơn để xin ra khỏi quân ngũ. Nhưng lúc này, cơn sốc thứ hai lại đến. Nguyễn Văn Thọ thất nghiệp. Trong suốt một năm trời, người lính giải ngũ long tong đi tìm việc, chỉ cần một chân bảo vệ trong nhà máy sản xuất khăn mặt thôi cũng không xong. Cuối cùng thì cũng kiếm được một chân thu dọn vệ sinh trong một công ty buôn bán cấp I. Cơ cực, đói khát, hiểm nguy trăm bề thời chiến cũng chưa bằng nỗi nhục nhã của một gã trai còn vẹn nguyên tâm hồn thi ca mơ mộng đi dọn những nhà vệ sinh công cộng. Không chịu nổi, cuối cùng Nguyễn Văn Thọ xin đi học, tại chức cũng được. Ông nghĩ, bao giờ, thời nào cũng cần tri thức, mà mình không có tri thức đâu phải lỗi tại mình. Rồi trong 5 năm, từ một nhân viên quèn đã nhanh chóng trở thành thư ký giám đốc, rồi trưởng phòng.
Có một tác phẩm của Nguyễn Văn Thọ mà tôi rất thích, ấy là “Nhà ba hộ”. Những câu chuyện tưởng chừng vụn vặt xoay quanh ba gia đình là lời kể rì rầm về cả một giai đoạn lịch sử của đất nước. “Nhà ba hộ” đồng thời cũng là một phần đời đầy cay đắng của Nguyễn Văn Thọ. Lương nhà nước không đủ để nuôi vợ con, Nguyễn Văn Thọ kiêm thêm đủ nghề khác để bằng mọi con đường kiếm được đồng tiền một cách chân chính: Chụp ảnh đám cưới, mua đài, xe đạp từ nước ngoài về bán. Việc gì cũng thức thời làm. Rồi khi đang ở chức trưởng phòng, thu nhập đã ổn định, Nguyễn Văn Thọ lại xin từ chức ra đi, ấy là “làm quan thì nửa chừng”. Sang xứ người, dường như ông thảng thốt chạy trốn một sự thật đang dần tan vỡ trong gia đình. Cái câu tự miêu tả số mệnh mình một cách kỳ quặc chính là như thế: “làm tình thì hai lần dang dở”. Nguyễn Văn Thọ cay đắng “Con người đã gắn bó với mình nhường ấy, đã tưởng chừng cùng nhau vượt qua tất cả, vậy mà còn không tin tưởng nhau thì liệu trên đời có tồn tại tình yêu hay không, hay tất cả chỉ là sự gá tạm.”
Sang Đức năm 1988, làm đội trưởng đội điện tử. Chưa đầy hai năm bức tường Berlin sụp đổ. Dường như những cú sốc cứ luôn đeo đẳng cuộc đời người đàn ông có vóc dáng nhỏ bé và đôi mắt đầy sức sống này. “Làm dân thì trôi nổi” - Kiếp nạn trôi nổi lại đẩy Nguyễn Văn Thọ vào công việc thu dọn vệ sinh lần thứ hai, nhưng lần này là dọn dẹp trên xứ người. Khi ấy hàng triệu người thất nghiệp. Các nhà máy đóng cửa. Người “thợ khách” xin được một chân dọn vệ sinh trong chính cái nhà máy trước đây làm việc. Trong suốt 6 tháng trời, ông phải làm việc 10 tiếng một ngày, trưa có 30 phút để nghỉ ngơi. Những chiếc máy đánh bóng sàn, hút bụi có công suất lớn, có lần vóc dáng không lấy gì làm to lớn của người cầm bút đã bị máy đánh bóng đẩy bật, ngã lăn ra đến khốn khổ. Nhưng lúc ấy vẫn chưa thấy nuốt nước mắt bằng khi một người đàn bà Đức trẻ đẹp làm cùng nhà máy tình cờ gặp đồng nghiệp người Việt đang thu dọn vệ sinh mới hỏi “Anh vẫn ở đây à?”. Sự nhạy cảm khiến ông hiểu hàm ý của câu hỏi ấy. Nhiều người hỏi Nguyễn Văn Thọ tại sao không trở về, tôi cũng hỏi thế. Ông nói rằng đó là một cơ hội để chứng kiến “thế giới phía bên kia” xem có đúng như nhận thức của mình không. Nhưng rồi tất cả đã vỡ òa. “Lúc ấy tôi luôn tự đặt ra một câu hỏi: Sao người ta sướng thế mà dân tộc mình khổ thế. Những giáo điều mình được học liệu có đúng hay không?”. Trước những thay đổi dữ dội ở châu Âu cả về đời sống chính trị và xã hội, tâm tính đầy nhạy cảm của một người có khả năng sáng tạo thiên bẩm cũng trở nên biến đổi kỳ lạ. Ông triền miên mất ngủ. Có lần về nước Nguyễn Văn Thọ bỏ nhà đi lang thang cả đêm ngoài đường không biết lối trở về nhà. Đận ấy đúng dịp Tết, Nguyễn Văn Thọ suýt phải nhập viện. Nhưng ngày qua ngày, Nguyễn Văn Thọ cứ nghe cha đánh đàn, thế rồi sự an ủi sâu lắng từ tâm hồn của một người cha đã khiến căn bệnh bột phát tự chấm dứt. Ông cụ vốn học Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa 3, tiếp thu cả Hán Nôm và Tây học đã khuyên con trai rằng “Con đừng thức mà không làm gì cả”.
“Làm văn thì muộn màng”
“Đừng thức mà không làm gì cả”. Nguyễn Văn Thọ hiểu hàm ý của người cha uyên bác. Những đêm mất ngủ đã trở thành cơ hội để những bài thơ xuất hiện. Nguyễn Văn Thọ đã viết được gần 1000 bài thơ mà phần lớn ra đời trong những đêm đối diện với bốn bức tường trắng lạnh lẽo của phòng ngủ, ngăn cách với lớp lớp tuyết dày đang buông trắng bên ngoài. Ban ngày dầm tuyết bán hàng 13, 14 tiếng, đêm thức dậy từ 3 giờ sáng để viết. Lịch trình ấy đã song hành cùng nhà văn suốt 18 năm nay. Viết là một cách để lý giải những gì mình chứng kiến, viết cũng là một cách để giải tỏa nỗi cô đơn. Nguyễn Văn Thọ có lần kể rằng “Ban ngày đi bán hàng phải nói chuyện với cái cây”. Chẳng hiểu chuyện ấy là thật hay đùa, nhưng nhân vật Kumar trong “Quyên” cũng đứng nói chuyện với cái cây. Trò chuyện với cái cây ư? Tôi từng xem một bộ phim về nhân vật bị dạt lên đảo hoang do Tom Hanks đóng. Anh ta vẽ hình mặt người lên quả bóng rồi hàng ngày trò chuyện với hình nộm ấy giữa mênh mang bao quanh là nước biển. Nhưng sống giữa một thành phố vài triệu dân giữa trung tâm của châu Âu mà phải nói chuyện với cái cây, âu là nỗi cô đơn đã được đẩy lên đến tận cùng. Không ai tự tạo ra số mệnh của mình, cũng không ai vẽ nên được bi kịch riêng, nhưng biết đâu, những gì mà nhà văn Nguyễn Văn Thọ nhìn thấy, cảm thấy trong suốt cuộc đời gắn liền với nhiều mốc lịch sử, những gì khiến ông trở nên ám ảnh đến độ thời gian không thể xóa đi những giọt nước mắt hễ mỗi lần hồi ức quay trở lại, tôi cho rằng cũng là một sự may mắn đối với người viết.
Nguyễn Văn Thọ bước vào nghề văn muộn màng, cho dù năm 1972 đã bắt đầu viết. Khi ấy Mặt trận Tây Nguyên tổ chức hội diễn. Tiểu đoàn thấy Nguyễn Văn Thọ hay nói chuyện văn chương mới đề nghị anh trung đội trưởng trẻ tuổi tham gia. Nguyễn Văn Thọ viết hai bản nhạc cho tốp ca đoạt giải nhất toàn mặt trận và một vở kịch. Hồi ấy nhà văn Khuất Quang Thụy cũng cùng ở quân đoàn, viết một vở kịch chèo được giải nhất, làm thơ rất hay, nổi tiếng khắp mặt trận, nên họ kết bạn từ thuở đó. Nhưng mãi đến năm 1984, sau khi xem một bộ phim truyền hình nói về người lính ngoài mặt trận, Nguyễn Văn Thọ bảo “thấy giả lắm”, mới tức thì viết truyện ngắn “Rồi chúng con sẽ trở lại quê hương”, được in ngay trên báo Văn nghệ. Sau đó đến truyện ngắn “Sương đêm” rồi “Muối mặn” viết về thời kỳ sau đổi mới được Lưu Quang Vũ dựng thành vở kịch chèo “Muối mặn đời em” giải nhất Liên hoan sân khấu chèo toàn quốc 1986. Trong lúc sự nghiệp văn chương đang phát triển, Nguyễn Văn Thọ ngừng viết, chỉ vì “cảm thấy trở thành cái đuôi của các nhà văn lớn”.
“Quyên” được khai bút từ năm 2001, là kết tinh của quãng thời gian đắng đót trên xứ người. Khó ai có thể phủ nhận tính hấp dẫn của “Quyên”, điều thường vắng bóng trong các tiểu thuyết Việt Nam. Kết cấu tiểu thuyết chặt chẽ, cốt truyện lạ và thông điệp lần đầu tiên được đề cập đến một cách rõ nét đã khiến “Quyên” giành được giải B cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 3 của Hội Nhà văn VN. Ở “Quyên” có một điều đặc biệt, nếu ngắt hầu hết các chương ra thì đều có thể đứng riêng thành những truyện ngắn độc lập. Cuộc đời chìm nổi của người phụ nữ tên Quyên chỉ là cái cớ để nhà văn miêu tả và phân tích hỉ nộ ái ố của những người Việt tha hương. Có những đoạn văn hài hước, và cũng có cả những câu chuyện đắng cay. Tôi thích hình tượng những con người “vô tăm tích”, lần đầu tiên được đề cập đến trong văn học. Có những con người tự làm cho mình vô tăm tích dù còn đang hiện diện như nhân vật Hùng. Và cũng có những người trở thành vô tăm tích thực sự trên xứ người như Dũng. Cả tính địa phương chủ nghĩa kìm hãm sự phát triển chung của cộng đồng cũng được đề cập trong tác phẩm thông qua trải nghiệm thực sự của nhà văn. Cuộc sống mưu sinh trên tuyết là giành giật, là được và mất, là thành công và tay trắng. Nguyễn Văn Thọ thấm thía điều ấy. Năm 2003, Nguyễn Văn Thọ và người vợ sau này của ông rút số vốn dành dụm được trong suốt quá trình kiếm sống trên xứ người là 50.000 Euro, vay mượn thêm 30.000 Euro đầu tư cửa hàng, rồi mất trắng, chỉ trong vài tháng. Lên đến đỉnh cao hoặc dìm kiệt xuống đáy, đâu cũng là sự tận cùng. Trong số hơn 3 triệu kiều bào ở nước ngoài, không ít người viết văn, nhưng chưa có cuốn tiểu thuyết nào lột tả đến cùng bi kịch tha hương như “Quyên”.
Nguyễn Văn Thọ có giọng nói sang sảng, sẵn sàng phản pháo một cách ngoa ngoắt với kẻ nào xúc phạm hoặc chơi xấu mình. Ai cũng dễ phải vía con người nhỏ bé ấy. Nhưng ẩn sau vẻ ngoài dữ dội và sự sòng phẳng đến lạnh lùng là một bản năng dễ xúc động trước thân phận con người, dễ rơi nước mắt, mà tôi đồ rằng cũng logic thôi, nếu thiếu sự rung cảm ấy, sao tác phẩm có thể ra đời, hoặc ra đời nhưng sẽ chỉ đứng vào hàng phế phẩm. Thỉnh thoảng Nguyễn Văn Thọ gọi điện từ Berlin, nói rất nhiều, nói rất lâu, nói một cách tốc độ về chuyện văn chương trong ngoài nước rồi như vừa chợt liếc qua đồng hồ lại vội vàng cúp máy một cách… tốc độ “Thôi nhá, thôi nhá, anh có việc phải làm”. Tôi không biết tật nói nhiều của Nguyễn Văn Thọ có phải nảy sinh từ lúc “nói chuyện với cây” hay không nhưng rõ ràng là ông thèm tiếng người, tiếng của những người đồng bào ở trên chính quê hương mình.
Thay cho lời kết bài viết này, tôi xin trích lời nhà thơ Hữu Thỉnh nói về thế hệ nhà văn trẻ hôm nay: “… đã lộ diện một lớp tác giả mới đáng tự hào, trưởng thành về ý tưởng thẩm mỹ, ý thứ...
Và tiếp đến là hối hận, là nức nở chuộc tội êm dịu đến thắt lòng, là quỳ gối yêu đương, là làm lành trong mê cuồng xác thịt đến tuyệt vọng. Trong đêm nhung lụa ở motel Mirana, tôi hôn lòng bàn chân ho...